.

TUỔI HỢP & KỴ
TRONG HÔN NHÂN
HOÁ GIẢI NHÀ XẤU NÊN XEM NGAY ›
Ý NGHĨA 8 CUNG và cách
CHỌN NHÀ HỢP TUỔI ›

thap-than-5-05-mau-tho

Thập thần: QUAN SÁT

 

QUAN SÁT

Chính quan  là lực lượng khắc chế khác với Nhật can. Thất sát còn gọi là Thiên quan, là lực lượng khắc chế cùng tính với Nhật can. “Chính” là quang minh chính đại trong mệnh cục có nhật can và quan tinh đều vượng là cách cục đẹp. Chính quan  quá nhiều, khắc chế quá nặng tất mệnh chủ nhu nhược lại không có năng lực. Ngụ ý: quan vị, chức vị, danh dự, chồng, con cái, nghề nghiệp tư pháp, hung sát…

 

Thất sát trong mệnh cục là dụng thần, chủ về túc trí mưu, quyền uy hiển hách. Nếu chế sát thái quá đi quý khí.

– Nhật can Vượng, tứ trụ có một Chính quan  có lực đắc dụng, không có Thát sátThực thương là cục thanh quý, chủ về sang quý.

Chính quan quá nhiều, nhật can không thể chống lại sự khắc chế. Gia nghiệp không nhiều, bệnh tật liên miên.

Nhật can yếu, mệnh chủ có trên 3 Chính quan tất chỉ có hư danh, tránh làm công chức, đề phòng tai hoạ lao ngục, quan phi.

– Nhật can vượng, Chính quan khắc chế có lực, có thông tin làm quan, năng lực học thuật tốt.

Nguyệt lệnh Chính quan đắc dụng, trọng chữ tín, cương trực vô tư, xử sự quan minh lỗi lạc, là bậc quân tử.

Chính quan là dụng thần lại gặp Thương quan, cả đời sự nghiệp trắc trở, chí lớn khó thành, dễ bị tiểu nhân lừa gạt.

Nhật can yếu, Quan Sát chế ước nhật can lại không bị chế phục, chủ về mệnh tàn tật, háo sắc cố chấp, nghèo khó, đoản mệnh.

Chính quan là dụng thần, toạ chi ở chổ Nguyệt, bất lợi cho con cái.

Chính quan là dụng thần, xuất hiện ở Niên trụ, cha mẹ có thể trợ lực cho bản thân. Thực thương  là kỵ thần xuất hiện ở niên trụ, cả đời khó có thành tựu sự nghiệp, bị lừa gạt, khó gánh vác trách nhiệm.

Chính quan là dụng thần, xuất hiện ở Nguyệt trụ lại không bị chế phục, sự nghiệp bản thân có thành tựu, công thành danh toại.

– Nhật chi Chính quan là dụng thần, chủ về thông minh lanh lợi, năng lực lên kế hoạch và khả năng ứng biến tốt, có thông tin làm quan. Mệnh nữ hôn nhân mỹ mãn, chồng có sự nghiệp thành tựu.

–  Mệnh nữ được Chính quan hợp thân làm dụng thần nhất định được gả cho người chồng sang quý, sự nghiệp bản thân có thành tựu.

–  Mệnh nữ gặp 2 Chính quan hợp thân thường có dung mạo xuất chúng, đa tình, có sức hút với người khác giới, có thông tin ngoại hình.

–  Mệnh nữ có nhật can vượng không gặp Chính quan lại không có Thực thương, bất lợi hôn nhân hoặc con cái.

Chính quan là dụng thần xuất hiện ở Niên trụ, Thời  trụ, có thông tin làm quan ở nơi khác.

– Nhật can vượng, Thất sát là dụng thần, được Tài hỗ trợ Sát là mệnh giàu sang.

– Nhật can yếu, dùng Ấn làm dụng thần. Sát Ấn tương sinh, công danh hiển đạt, sự nghiệp thành công, nhiều quyền uy. Sát vượng không có Ấn, thiếu uy phong, đa sầu cảm.

Nhật chi Thất sát là kỵ thần, vợ (chồng) mạnh mẽ quyết đoán, nóng nảy, quan hệ vợ chồng không hài hoà.

Mệnh nữ có Quan Sát hỗn tạp là kỵ thần, không có Thực thương chế ước, không làm kỹ nữ cũng là phận làm thiếp, mệnh nghèo hèn.

– Nhật can vượng, Tứ trụ có 1 Chính quan có lực đắc dụng, không có Thất sát Thực thương là cách cục thanh tuý, chủ về sang quý.

Quan hiển lộ mà không thể gặp hợp, không thể làm quan.

Chính quan kỵ gặp hình, xung, khắc, phá. Không chỉ Chính quan mà các Thập thần trong trụ phần lớn đều kỵ gặp gặp hình, xung, khắc, phá.

Nếu Nhật can suy, Quan Sát vượng, nhất định là mệnh nghèo hèn.

Chính quan gặp SátThương quan hình, xung, phá, hại; hành tuế vận chủ về tính mạng gặp nguy khó.

– Có Quan cần có Ấn hoá tiết, chủ về không sang quý cũng giàu có.

Quan tinh gặp nhau, thị phi khó tránh. Nếu quá nhiều cần được chế phục mới có thể hưởng phúc.

– Chính khí Quan tinhNguyệt chi, ưa gặp Tài ẤnNiên trụ và Thời  trụ, đồng Thời  không phạm phá, hại, hình, xung, chủ phú quý song toàn.

Quan tinh không thể bị hình xung. Nếu Quan Sát đồng thời  xuất hiện là tượng cát lợi chuyển hung hoạ. Hoá Sát thành Quan mới là cát lợi, hoá Quan thành Sát hoạ trùng trùng.

– Nhật can yếu cần hành chỗ vận vượng, tuế vận gặp chổ nhật can vượng không xung, phá, mệnh chủ tất sẽ vinh hiển.

Ấn nhiều, Quan nhiều là mệnh sang quý. Nhật can vượng, Quan nhiều hoá tiết Tài tinh; Tài vượng, nhật can yếu nhược, mệnh nghèo hèn lại nhiều bệnh.

Chính quan nên ở Nguyệt trụ, không phá, không thương, chủ sang quý lại giàu có.

Chính quan chủ về nhân đức, thuần chính, lập thân bằng nghiệp văn. Quan Ấn tương sinh gặp tuế vận, chủ về giữ chức quan cao, gia sản phong hậu.

Chính quanThất sát tạp loạn vô hình. Quan hiển lộ mà Sát ẩn tàng phần lớn là phúc, Sát hiển lộ và Quan ẩn tàng là tượng đại hoạ.

– Nhật can cường vượng, trong tứ trụ nhiều Tỷ kiếp, ít Tài tinh, Quan tinh không có hoặc không có lực, lại không có Thương quan, Thực thần hao tiết khí. Lúc này, cần dựa vào Thất sát để bổ cứu thiếu sót của Quan tinh, chế phục Tỷ kiếp. Tỷ kiếp được chế phục thì Tài tinh không bị khắc thương. Thất sát này thành quyền tinh, nhập mệnh tất định mệnh chủ được giàu sang.

Sát nhẹ ưa Tài sinh trợ. Nhật can cường vượng, trong tứ trụ nhiều Tỷ kiếp, Thất sát nhẹ thiếu lực chế phục nhật can. Lúc này cần dựa vào Tài tinh sinh vượng Thất sát, tăng cường lực Thất sát chế phục Tỷ kiếp.

Sát nặng, nhật can nhẹ, chế phục có ích, Nhật can yếu, Thất sát nhiều, Tỷ kiếp ít, không có Ấn tinh hoá Sát. Lúc này cần dùng Thương quan, Thực thần chế phục Thất sát. Trong tứ trụ vừa có chế phục, đại vận lưu niên cũng nên hành chổ vượng chế phục (hành vượng địa Thực Thương), chủ cát lợi.

– Nhật can yếu có Ấn, Sát vượng không thương hại. Nhật can yếu, Thất sát vượng duy chỉ có Ấn tinh sinh trợ nhật can, hoá Sát. Tuy Sát vượng cũng không sợ, kỵ Tài tinh thương Ấn. Tuế vận nên là chổ Ấn thụ, Tỷ kiếp.

– Nhật can không có gốc, bỏ mệnh tòng Sát. Nhật can yếu, trong tứ trụ không có Tỷ kiếp, Ấn tinh, lại không có Thực thương chế phục Sát, chỉ toàn gặp Quan Sát bao vây tấn công nhật can. Đây là cách cục bỏ mệnh tòng Sát, nên dùng Quan sát, Tài tinh làm dụng thần, tuế vận cũng phải ở chổ Quan Sát, Tài vượng mới cát lợi. Kỵ vận Tỷ kiếp, Ấn, Thương quan, Thực thần, chủ về hung tai. “Khí mệnh tòng Sát, cần gặp Sát”, điều kiện thành cách là: Nhật can thất Thời , Nguyệt chi là Quan Sát, tam hợp Quan Sát thành cục hoặc hội cục Quan Sát. Thiên can của tứ trụ đều là Quan Sát, Tài tinh, không có Tỷ kiên, Kiếp tài, Ấn tinh mới thành cách. Cục này chỉ lấy Tài tinhQuan Sát làm dụng thần, kỵ Tỷ kiếp, Ấn tinh.

Sát nặng, nhật can nhẹ, cả đời có tổn hại

Thất sát nếu gặp Tài sinh trợ, Sát tinh càng ẩn chứa nhiều hung tai. Thất sát gặp Tài sinh càng vượng.

– Nhẫn Sát đều hiển lộ, uy danh vang khắp muôn nơi

Sát không tách rời Ấn, Ấn không tách rời Sát. Sát Ấn tương sinh, công danh hiển đạt

Sát Ấn cùng hiển lộ, văn võ song toàn

Thất sát gặp chổ trường sinh, mệnh nữ lấy chồng sang quý. Như Canh lấy Bính làm Sát, kỵ Quan tinh hỗn tạp

Sát tinh ở vị trí Tý, con cái ngỗ nghịch.  Đây là Thất sátThời  chi không được chế phục

Thất sát có chế phục, chủ đông con

Thất sát trong Thời  trụ có chế phục, cuối đời phát phúc

Thất sát có thế áp đảo trong trụ, chủ về mệnh thích tranh đấu, hiên ngang, hành nghiệp trượng nghĩa, đôi khi có phần nóng nảy.

Nhật can yếu gặp Thất sát tất bị khắc chế. Lại gặp hình Sát khó tránh khỏi hoạ

Nguyệt chi Thất sát kỵ bị xung, Thương quanDương nhẫn ưa gặp nhau

Nhật can yếu, Sát mạnh không có chế thần, phần lớn tai hoạ không nặng. Khi vào chổ Quan vượng e có thương tật lại thương vong.

Quan Sát hỗn tạp, có bỏ Quan giữ Sát cũng có bỏ Sát giữ Quan. Bỏ Sát giữ Quan luận là sang, bỏ Quan giữ Sát chủ về quyền uy

– Nếu Thời  trụ gặp Thất sát không nhất định là tượng hung hoạ

– Nhật trụ có Thất sát mạnh, nhật chi vượng, mệnh uy phong lẫm liệt

– Niên can Thất sát không luận là hung hoạ. Nếu Bính lấy Nhâm làm Sát, Nguyệt can là Đinh. Đinh Nhâm hợp hoá thành cát lợi

Nhật can yếu có Quan Sát hỗn tạp, phần lớn nghèo khổ lại đoản mệnh

– Bỏ mệnh tòng Sát, cương nhu hài hoà. Nhật can là can dương không thể tòng Sát, Nhật can là can Âm mới có thể luận tòng Sát cách.

Sát nhẹ ưa Tài sinh trợ

– Hợp Quan tinh không phải sang, hợp Thất sát không phải hung hoạ. Như Giáp lấy Tân làm Quan. Tân hợp Bính không cát lợi. Giáp lấy Canh làm Sát. Canh hợp Ất là cát lợi

Thất sát có chế hoá làm quyền, tuổi trẻ đỗ đạt. Tuế vận nếu hành chổ nhật can vượng, có công danh lại có phúc.

Thất sát kỵ gặp xung nhiều. Nếu nhật can vượng là tốt, nhưng nếu nhật can yếu gặp Thất sát mạnh khắc chế tất khó tránh hoạ hoạn.

Thất sát không thể luận là hung tai, nếu có chế phục có thể là phúc

– Quý âm phần lớn gặp Kỷ thương hại. Sát tinh phải cần Mộc đến hao tiết, danh lợi đều tăng, chỉ là không sống thọ.

– Người sinh năm Lục Bính có nhiều Tý Hợi, Sát tinh nhờ Ấn được thế trung hoà. Hành vận phương đông có danh lợi. Hành vận phương tây khó tránh gặp trắc trở.

– Mùa xuân Mộc vượng, nếu gặp nhiều Kim sợ là gặp nguy. Trong cục được khí trung hoà, phúc thọ yên ổn.

Thất sát, Thiên ấn khó hiển lộ nhất. Trên dưới tương sinh có danh lợi, tứ khố toạ Tài, lên chức công khanh.

 

 

Sát nhẹ:

 

Sát nhẹ ưa Tài sinh trợ. Nhật can cường vượng, trong tứ trụ nhiều Tỷ kiếp, Thất sát nhẹ thiếu lực chế phục nhật can. Lúc này cần dựa vào Tài tinh sinh vượng Thất sát, tăng cường lực Thất sát chế phục Tỷ kiếp.

 

 

 

 

Thập thần: QUAN SÁT

Thập thần: ẤN TINH

Thập thần: TỶ KIẾP

Thập thần: THỰC THƯƠNG

Thập thần: TÀI TINH

 

am-duong-can-chi-goc

 

 


 
click