.

TUỔI HỢP & KỴ
TRONG HÔN NHÂN
HOÁ GIẢI NHÀ XẤU NÊN XEM NGAY ›
Ý NGHĨA 8 CUNG và cách
CHỌN NHÀ HỢP TUỔI ›

am-duong-can-chi-goc

Thập thần: ẤN TINH

 

ẤN TINH

Chính Ấn, Thiên Ấn (còn gọi là Kiêu thần), Thương quan, Thực thần, Chính quan, Thất sát (còn gọi là Thiên quan), Chính tài, Thiên tài, Kiếp tài (còn gọi là Dương nhẫn), Tỷ kiên.

Chính Ấn là lực lượng sinh trợ khác tính chất với nhật can. Thiên Ấn là lực lượng sinh trợ cùng tính chất với nhật can. Ngụ ý: Quyền lợi, địa vị, sự nghiệp, học vị. Chính Ấn là sao của học thuật.

– Nhật can vượng lại gặp Ấn tinh chủ về mệnh ưa nịnh nọt, nhỏ nhen, bất lợi với con cái. Lại không gặp Thực thương hoặc Tài tinh chế ước thì nghiệp văn khó được phát huy. Có thể thành công trên các phương diện nghệ thuật, biểu diễn, nghề y, luật sư, tôn giáo, kỹ nghệ, nghề tự do, nghành dịch vụ.

Chính Ấn là dụng thần, được phù trợ chủ về mẹ hiền, đoan chính, nhân từ, thân thể khoẻ mạnh.

Chính Ấn là dụng thần bị Tài tinh khắc chế, quan hệ cha mẹ bất hoà, cuộc sống vất vả, khó được gia đình trợ giúp.

Chính Ấn là kỵ thần, thiếu khả năng quyết đoán, nhiều dục vọng nên khó được thoả mãn, đôi khi quá tự tin, dễ thất bại.

Mệnh nữ có Chính Ấn nhiều kỵ thần, tham vọng chiếm hữu mạnh, khó theo quy cũ.

– Niên trụ có Chính Ấn là dụng thần, cha mẹ ở địa phương được tôn kính, có văn hoá; toạ chi là lâm quan có thể được danh lợi, địa vị trong chốn quan trường.

– Nguyệt lệnh có Chính Ấn là dụng thần, học nghiệp có thể thành tựu, quan hệ với cha mẹ tốt, anh trai là người thông minh, có tài.

– Nguyệt lệnh có Chính Ấn là kỵ thần, không được gia đình trợ giúp, xa quê sáng nghiệp, mệnh nữ nên lấy chồng phương xa.

– Nhật can yếu được Thiên Ấn làm dụng thần, thông minh đa tài, độc lập tự chủ, thích hợp kiêm chức.

– Nhật can vượng lại được Thiên Ấn phù trợ, mệnh chủ cố chấp cô độc, hà khắc, coi thường người khác.

Thiên Ấn là kỵ thần không được chế ước, phúc mỏng, bất hạnh, bệnh tật, duyên mỏng với con cái, cả đời vất vả.

Nhật can vượng có Kiêu thần đoạt Thực, bị cha mẹ bó buộc, không tự do. Làm việc có đầu không có cuối, dễ thất bại.

– Có Quan không có Ấn không hoàn toàn tốt, có Ấn lại có Quan hưởng phúc dày.

Ấn thụ ở nhật can, nguyệt can, niên can kỵ gặp Tài tinh, vận đến chổ tài nên thoái vị.

– Ấn thụ không gặp tổn thương, phần lớn được cha mẹ che chở, hỗ trợ tiền tài để gây dựng sự nghiệp, an hưởng phú quý.

Ấn thụ nhiều chủ về mệnh cô độc, sống trong cảnh thanh bần.

– Ấn thụ ưa Thất sát sinh trợ nhưng Sát không thể quá nhiều, nhiều tất thương hại nhật can. Nếu không  có Thất sát, hành vận gặp nó tất phát đạt. Nếu có Thất sát hành Tài vận lại gặp chổ tử, tuyệt hoặc chổ một đều chủ về điềm hung.
Ấn thụ gặp Tài hành Tài vận lại toạ chổ tử, tuyệt nhất định tính mạng khó giữ. Nếu tứ trụ có Tỷ kiên có thể hoá giải (Ấn hành chổ tử, tuyệt và Tài không thể hoá giải).

– Sát có thể sinh Ấn, kỵ hành vận Tài. Vì Tài tinh có thể phá Ấn sinh Sát, không may mắn.

– Quan hình không phạm, Ấn thụ và Thiên đức đồng cung.

– Ấn thụ ưa gặp Thiên đức, mệnh nhân từ.

– Ấn thụ hợp cách, hành đại vận kỵ nhất Ấn thụ biến hợp. Gặp Địa chi tam hợp biến thành Thương cục, Tài cục hoặc Sát cục là không cát lợi.

– Thổ sinh Kim, Thổ dày Kim bị chôn. Mộc được Thuỷ nuôi dưỡng, Thuỷ thịnh thì Mộc trôi. Hoả nóng Thổ khô thì không thể sinh sôi. Kim cứng không thể sinh Thuỷ (như ngày Canh được Tuất). Thổ vượng gặp Hoả vượng, chủ về vùng mắt gặp thương tổn. Thổ mục không thể sinh Kim. Kim khô không thể sinh Thuỷ. Thuỷ tuyệt không thể sinh Mộc.

– Thuỷ được Kim sinh mà gặp mùa Thu là tượng Kim trắng Thuỷ thanh, chủ thanh cao tú lệ.

– 2 Ấn Kim Mộc phần lớn là cát lợi. Nếu Ấn Hoả nhiều thì Hoả khô Thổ nức, Ấn Thuỷ nhiều thì Thuỷ tràn Mộc trôi, Ấn thổ nhiều thì Thổ nặng chôn Kim.

Ấn thụ, Tài tinh gặp nhau, trăm sự khó thông

Tham Tài hoại Ấn mất quan chức.

– Nguyệt Ấn thuần tuý, không có Tài tinh, chủ về đỗ đạt nhờ văn chương

– Nhật can vượng, Ấn nhiều, hành Tài vận không phương hại. Nhật can yếu có Ấn tương trợ, dù hành Sát vận cũng không bị thương hại.

– Ấn thụ có Quan ưa gặp Tài tinh, Ấn thụ không có Quan kỵ gặp Tài tinh.

Ấn thụ bị Tài khắc chế gây tổn thương, mẹ mất sớm.

Ấn thụ bị thương, phá bại gia nghiệp tổ tông, tha hương nơi đất khách.

– Ấn ở chổ Tý, được vinh hoa phú quý.

– Gặp Ấn nếu được Quan sinh trợ, chủ sang quý.

– Có Ấn thụ không nên có Nhật can quá vượng, trừ khi nguyên mệnh nhiều Quan sát.

– Nhật can yếu, Ấn thụ nhiều tất thành tựu. Thực thần tiết hao nhật can khó tránh hình khắc. Hành vận trong những năm đầu dù giữ được tính mạng cũng đau ốm, bệnh tật nơi đất khách.

Ấn thụ nhiều, ít con cái

Ấn thụ xung mà Tài tinh nặng, mệnh chủ có nổi khổ riêng.

– Tham Tài hoại Ấn ưa hành chổ Tỷ kiếp.

Ấn thụ quá nhiều, không thích hành chổ Nhật can vượng.

Nếu là gặp Tài đến hoại Ấn, khó tránh hoạ sông nước.

– Có Ấn không có Quan, hưởng phúc thanh cao, có vinh hoa cũng có thất bại. Có Quan không có Ấn, giàu sang mà tàng tật.

Ấn thụ quá nhiều, nhật can vượng, hình khắc, chủ về nghèo khổ cô độc.

– Sát hoá thành Ấn, sớm đổ đạt.

Quan Ấn ở chổ hình xung, tâm trí rối loạn.

– Bỏ Ấn theo Tài, Thiên tàiChính tài hiển lộ.

Mệnh mang Đảo thực (tức Thiên Ấn), tính mạng gặp nguy khó.

– Mệnh có Thực thần gặp Kiêu thần, không được tự do, làm việc không dứt khoát. Nhiều lần thất bại, dung mạo không cân đối, thân thể nhỏ bé, thiếu dũng khí, khó được như ý muốn, khắc hại lục thân. Khi nhỏ khắc mẹ, sau khi trưởng thành thương hại vợ.

Nhật can yếu gặp Thiên Ấn, dung mạo xấu.

Kiêu thần gặp Quan sát nhiều thành công cũng nhiều thất bại. Thiên Ấn gặp Tài tinh, chuyển nhục thành vinh. Nhật can vượng là quý, nếu ở thế yếu vẫn bình thường. Có Thương quan chủ về cuộc sống no đủ, có Thực thần thì cô độc một mình không chổ nương tựa.

Kiêu thần đương quyền, vì tâm cơ mà đầu tiên chăm chỉ, cuối cùng lười nhác, học nhiều nhưng ít thành.

– Niên trụ và nguyệt lệnh có Thiên Ấn, cát hung chưa rõ. Đại vận gặp Thọ tinh, khó tránh tai ương. Thọ tinh tức Thực thần.

Kiêu thần ở tổ vị, phá bại gia nghiệp tổ tiên. Tổ vị tức niên trụ.

– Nguyệt can gặp Ấn thụ ưa Quan tinh. Vận nhập chổ Quan nhất định có phúc, nếu toạ chổ tử, tuyệt chủ bất lợi. Khi hành Tài vận, trăm sự không thành.

– Nhật can vượng, cần có Quan chế ước. Quan sát không đến không có tước lộc, dù có nghề nghiệp chuyên sâu làm kế sinh nhai cũng cô độc, nghèo khổ.

– Nhật can yếu gặp Ấn thụ sinh trợ là cách cục thanh kỳ, cần xem can chi để luận đoán kỹ. Hàm trì trong chi, can mang hợp, chủ phong lưu, lang thang phiêu bạt phá bại gia nghiệp.

– Mộc gặp Nhâm, Quý Thuỷ vượng tất bị trôi. Nhật can không có gốc, tuế vận nếu gặp Tài vận vượng, chuyển hung thành cát.

– Ấn thụ gặp Tỷ, nếu gặp hành vận tương trợ nhất định là mệnh thương thân giàu có. Vận đến chổ Tài, phúc lộc song toàn

 

 

Ấn tinh

 

Chính Ấn là lực lượng sinh trợ khác tính chất với nhật can. Thiên Ấn là lực lượng sinh trợ cùng tính chất với nhật can. Ngụ ý: Quyền lợi, địa vị, sự nghiệp, học vị. Chính Ấn là sao của học thuật

 

 

 

Thập thần: QUAN SÁT

Thập thần: ẤN TINH

Thập thần: TỶ KIẾP

Thập thần: THỰC THƯƠNG

Thập thần: TÀI TINH

 

 


 
click