⭕ Tư vấn Phong thủy nhà: 0938 58 1710

CÁCH ĐO TỌA ĐỘ
PHÂN CUNG NHÀ

HOÁ GIẢI NHÀ XẤU NÊN XEM NGAY ›

Ý NGHĨA 8 CUNG và cách
CHỌN NHÀ HỢP TUỔI ›

Photo 22 24 47 30-08-2016

NHẬT CAN và Đại vận

NHẬT CAN

Trong phần này tác giả đưa ra luận chứng về 10 Nhật can (ngày sinh), lấy các nhân vật nổi tiếng làm dẫn chứng, mỗi loại Thiên can cần Ngũ hành khác nhau để tương sinh hoặc cân bằng. Nhật can ảnh hưởng đến Đại vận (10 năm là 1 vận) của đời người, Nhật can kết hợp với Bát tự để suy ra Ngũ hành khuyết, trong đó Nguyệt can (Tháng sinh) có sự ảnh hưởng lớn nhất, Địa chi (con giáp) của Nhật can được gọi là Cung phu thê. Bát tự có Nhật can cường vượng phàm chủ dễ hành vận.

Nhật can cường vượng được Ngũ hành Nguyệt can bổ trợ tương sinh

Nhật can suy nhược bị khắc chế bởi Ngũ hành Nguyệt can hoặc cả bát tự

Ví dụ sau đây là Nhật can cường vượng:
Nhật can QUÝ TỴ, Nguyệt can MẬU THÂN, Nhật can Quý (Thuỷ) được tháng sinh Thân (Kim) sinh trợ (Kim sinh Thuỷ)

Ví dụ sau đây là Nhật can suy nhược:
Nhật can CANH TÝ, Nguyệt can TÂN TỴ, Nhật can Canh (Kim) bị khắc chế bở Tỵ (Hoả), Hoả khắc Kim.

 

.

⚬  Nhật can GIÁP MỘC cần ĐINH HOẢ, QUÝ THUỶ, CANH KIM (kỵ Ngựa tức là Ngọ)

dụng thần Bát tự này là Thuỷ, cụ thể QUÝ THUỶ

⚬  Nhật can ẤT MỘC cần QUÝ THUỶ và BÍNH HOẢ (không thể tiếp nhận CANH KIM, Tân Tỵ)

không thể sử dụng đối xung của Mão là Dậu để xung kích Mão
hướng Nam Bắc

⚬  Nhật can BÍNH HOẢ  cần NHÂM THUỶ (gặp Thổ là hành vận suy )

Nhật can ĐINH HOẢ cần GIÁP MỘC, cũng cần cả CANH KIM, ĐINH HOẢ gặp Dần Mộc lặp tức có chuyến biến lớn ()

⚬  Nhật can MẬU THỔ cần BÍNH HOẢ, QUÝ THUỶ và GIÁP MỘC ()

⚬  Nhật can KỶ THỔ cần BÍNH HOẢ, đồng thời cần cả QUÝ THUỶ. (mà kỵ GIÁP MỘC, phàm Bát tự tính Âm không thích bị HÌNH KHẮC ) Nếu dụng thần cần Mộc,  Chỉ có thể dùng ẤT MỘC

⚬  Nhật can CANH KIM cần gặp Đinh Hoả và GIÁP MỘC (kỵ gặp tam hội hoặc tam hợp Hoả cục, kỵ nhất Hoả quá nhiều, Dần, Ngọ, Tuất” hoặc “Tỵ, Ngọ, Mùi“)

⚬  Nhật can TÂN KIM  cần NHÂM THUỶ, đa số TÂN KIM phải dùng KỶ THỔ đến sinh vượng, sau đó dùng NHÂM THUỶ. Giả dụ Bát tự lạnh cóng, có thể thêm một chút BÍNH HOẢ, BÍNH HOẢ và TÂN KIM có thể hợp hoá thành Thuỷ. (kỵ nhất gặp ĐINH HOẢThổ vượng)

⚬  Nhật can NHÂM THUỶ cần Kim vừa đủ đến sinh Thuỷ (kỵ Hoả cục, Tỵ Ngọ Mùi)

⚬  Nhật can QUÝ HUỶ cần CANH KIM hoặc TÂN KIM, dùng để sinh vượng Thuỷ, khiến Nhật can cường vượng, Nếu QUÝ THUỶ quá nhiều, tất dùng đến BÍNH HOẢ đến bổ cứu (nhưng nếu Thuỷ quá nhiều dẫn đến phá tài)

Vật chất tính âm có sức dẽo dai và nhẫn nại, không dễ dàng bị tiêu diệt, Tiếp theo, do bản thân thuộc âm nhu, cho dù Bát tự xuất hiện hiện tượng cực đoan cũng không dẫn đến tình trạng quá kém hoặc quá nguy hiểm. Mặt khác, phải xem bên cạnh người đó xuất hiện người như thế nào, đồng thời tính toán cả sự ảnh hưởng của người hợp tác với người thân bên cạnh mình. Từ đó mới có thể đưa ra dự trắc chính xác nhất.

Luận đoán cát hung của Bát tự phải kết hợp xem cả những người xung quanh có trợ lực gì cho người đó hay không. Trên thực tế, có nhiều Bát tự ko tốt nhưng đều được bổ cứu nhờ vào những người bên cạnh mà được bình an

 

NHẬT CAN GIÁP MỘC

Dụng thần Nhật can GIÁP MỘC mang 3 đặc điểm lớn. Thứ nhất cần phải gặp ĐINH HOẢ  mới có tinh thần, thành tựu, cũng có thể ẩn tàng ở Thiên can. Thứ hai, do GIÁP MỘC là cây đại thụ, cần phải có nước tưới tắm, nên phải có QUÝ THUỶ. Thứ ba, GIÁP MỘC cần CANH KIM mới có thể gọt đẽo để thành tài. Nếu xuất hiện cả 3 Đinh Quý Canh biểu thị dụng thần đầy đủ.

NIÊN TRỤ: ẤT TỴ
NGUYỆT TRỤ: BÍNH TUẤT
NHẬT TRỤ: GIÁP THÌN

photo-12-28-27-04-09-2016

Trên là Bát tự của Quách Phú Thành, Nhật can là GIÁP MỘC sinh vào tháng Tuất, trong Nguyệt chi Tuất ẩn tàng Thiên can Đinh Hoả chủ người này có nghị lực.

Sinh tháng Tuất Hoả nhiều. Dụng thần thứ hai là CANH KIM, CANH KIM ẩn tàng trong Niên chi Tỵ, biểu thị GIÁP MỘC được gọt đẽo thành công. Năm 53 tuổi đại vận là Canh Thìn, biểu thị tuổi này mới gặp được CANH KIM chân chính.

Dụng thần thứ ba là QUÝ THUỶ. Năm 23 tuổi trong đại vận xuất hiện QUÝ THUỶ. Năm 33 tuổi đại vận bước vào Nhâm Ngọ, trong Ngọ ẩn tàng thiên can  Đinh Hoả. GIÁP MỘC sinh vào tháng Tuất là thời điểm giao mùa xuân nhưng thời tiết vẫn tương đối nóng. Trong Tuất ẩn tàng Đinh Hoả và Mậu Thổ, biểu thị Bát tự nóng, ẩn tàng lượng lớn Đinh Hoả.

Do đó, dụng thần Bát tự này là Thuỷ, cụ thể QUÝ THUỶ.

Để bổ cứu Bát tự này có thể dùng CANH KIM và QUÝ THUỶ. Năm Bính Tý 1996, vận khí có sự phát triển Khá tốt. Năm Quý Mùi 2003 cũng tốt, nhưng từ sau năm này đến tận năm Mậu Tý mới có thể tốt trở lại. Lúc này bước vào đại vận Tân Tỵ, gặp CANH KIM (tàng ẩn trong Tỵ) và Tân Kim đến sinh Thuỷ. Bắt đầu từ lúc này, anh đạt được thành tựu cao hơn.

Bát tự này cần Thuỷ, vì vậy kỵ Ngựa tức là Ngọ, Tý Ngọ tương xung, Ngọ sẽ tương khắc với Tý Thuỷ. Hiện nay anh đang bước vào vận BÍNH HOẢ, nếu tham gia hoạt động đến Ngựa sẽ gặp trở ngại, nếu mặc áo đỏ sẽ khó tránh khỏi sự cố, phương Nam thuộc Hoả, Australia chính là tử địa của anh, anh từng gặp tai nạn ở đây. Từ trong Bát tự chúng ta có thể tìm ra những nguyên nhân tạo ra sự thăng trầm trong vận trình của một người.

Năm Giáp Thân 2004, Quách Phú Thành vốn có thể đạt được sự chuyển biến lớn trong sự nghiệp, đáng tiếc lại chọn người có Ngọ làm đại diện. Kết quả chỉ đạt được thành công nhỏ, đó là điều vô cùng đáng tiếc.

(Bát tự nhân vật này không đúng với lịch vạn niên, có thể sách sai)

NHẬT CAN ẤT MỘC

Nhật can ẤT MỘC khác biệt lớn với GIÁP MỘC là loại Mộc mềm yếu, Giáp là Mộc dương, Ất là Mộc âm, không thể tiếp nhận CANH KIM nếu không sẽ bị gãy.

Dụng thần quan trọng nhất của ẤT MỘCQUÝ THUỶ và BÍNH HOẢ.  Nhật can ẤT MỘC sinh vào mùa Đông do Thuỷ nhiều khiến cho Mộc này bị ẩm mốc, cần BÍNH HOẢ để sưởi ấm. Nếu sinh vào mùa Hạ, Bát tự nóng vẫn không thể dùng CANH KIM đến sinh Thuỷ, phương pháp dùng Thổ ẩm để hạ nhiệt.

Thổ ẩm có 2 chữ “Thìn và Sửu“. Cho dù ẤT MỘC sinh vào tháng Mão cũng không thể sử dụng đối xung của Mão là Dậu để xung kích Mão, trong ví dụ này, ẤT MỘC luôn kỵ Tân Kim.

Ngoài kỵ Kim đến chặt phạt, lý do tiếp theo là Tân Kim cướp đoạt nhân tố yêu thích, đó chính là BÍNH HOẢ. ẤT MỘC cần nguyên tố hướng Nam Bắc, tức cần Bính Quý hiển lộ. Thêm tài tinh với ẤT MỘC sinh vào mùa Đông là Mùi Thổ và Tuất Thổ. Sinh vào mùa Hạ phải thêm Sửu Thổ và Thìn Thổ, tức thêm tài tinh ẩm ướt.

Từ đó có thể hiểu thêm rằng, vì sao có người thích ăn thịt dê, nuôi chó.

Có một nhân vật bí mật vào năm Tân Tỵ, gặp hoạ bất ngờ mà mất mạng. Bạn có thể không tin sự thần diệu trong thần số bát tự không?

 

NHẬT CAN BÍNH HOẢ

Nhật can BÍNH HOẢ  sau đây của Mai Diễm Phương. BÍNH HOẢ ưa nhất gặp NHÂM THUỶ, tối kỵ gặp Thổ. Không cần quan tâm đến mùa sinh.

NIÊN TRỤ: QUÝ MÃO
NGUYỆT TRỤ: NHÂM TUẤT
NHẬT TRỤ: BÍNH TUẤT

photo-12-23-45-02-09-2016

Người có Nhật can BÍNH HOẢ bất luận ở trạng thái cường vượng hay suy nhược, gặp NHÂM THUỶ tất lấy làm dụng thần, gặp Thổ là hành vận suy. Vì ánh nắng mặt trời cần sông mới có thể sinh ra cảm giác thư thái, nếu bụi (Thổ) đầy trời sẽ thành đục ngầu. Như vậy có thể biết rằng, BÍNH HOẢ cần một chút Thổ đã có thể trở nên cường vượng

Bát tự của Mai Diễm Phương là một ví dụ. Người này một đời giống như mặt trời, đáng tiếc thân ở vào môi trường ôm nhiễm đầy bụi, vậy bụi bặm ô nhiễm là gì?  Bính là Hoả, Hoả sinh Thổ, cái mà Hoả sinh ra đầy bụi bặm. Nếu là nữ giới thì đại diện cho con cái, cũng tức là học trò, học trò cô càng nhiều càng hành vận suy. Đây là thông tin được luận dựa vào Bát tự.

Tiếp theo nhật can thuộc Hoả (Bính Tuất), sinh vào mùa Hoả Thổ, Hoả cực vượng, Tuất và Mão hợp lại thành Hoả cục. Trong Bát tự này có 2 nguyên tố khiến cho Hoả vượng: một là Tuất, là học trò. Hai là Mão, là Mẹ. Từ đây chúng ta có thể thấy cô không hợp với Mẹ và anh em. Hoả cô quá vượng, anh em khiến cho yếu tố Hoả cảu cô càng nóng hơn, biểu thị cướp đoạt tài của cô. Bát tự này nóng như vậy, vì sao cô có thể trở thành nữ hoàng âm nhạc?

Trong ví dụ ẤT MỘC, chúng ta biết QUÝ THUỶ và BÍNH HOẢ là 2 dụng thần, Thiên can xuất hiện 2 dụng thần này giống như có được 2 bảo châu thần bí, có thể không gặp bất kỳ kiên kỵ gì. Thứ bản thân cần nhất đã được trời ban cho, có thể sẽ phải chịu chút khổ cực trên nhân gian, sau đó siêu thoát thành thần tiên. Bát tự của cô cũng giống trường hợp này

Trong Bát tự đã có yếu tố cần nhất là NHÂM THUỶ. NHÂM THUỶ là ai? Nếu BÍNH HOẢ đại diện cho nữ giới thì NHÂM THUỶ chính là tình nhân. Cho thấy cô luôn mong muốn tìm một người lý tưởng, nhưng mãi không thể kết hôn vì trong bát tự có thế lực lớn mạnh không ngừng quấy nhiễu, đó chính là Tuất Thổ. Trong Tuất Thổ ẩn tàng thêm Thiên can Mậu Thổ, chỉ cần Mậu Thổ tồn tại, mỗi khi QUÝ THUỶ xuất hiện đều bị Mậu này hợp thành Hoả Cục.

Bát tự nóng như vậy, Mậu Quý đương nhiên có thể hợp Hoả thành công. Điều này biểu thị tình trạng gì? Mỗi khi chồng QUÝ THUỶ lại gần, Tuất Thổ sẽ xuất hiện khắc chế QUÝ THUỶ khiến cho QUÝ THUỶ mất đi tác dụng. Mà QUÝ THUỶ đại diện cho tử cung của phụ nữ, cũng đại diện cho chức năng thận, tai. Khi QUÝ THUỶ gặp Tuất Thổ sẽ phát sinh trở ngại. Khi hành vận Sửu Thổ, trong Bát tự có 2 Thổ nóng, khó tránh gặp nguy hiểm đến tính mạng.

3 loại Thổ gặp nhau gọi là “Tam hình“. Cô qua đời vào tháng Sửu, năm Quý Mùi. Đây là vì gặp Tma hình, tức hình sát của 3 Thổ. Nửa đầu năm có sự biến chuyển tốt vì gặp “Quý” của năm Quý Mùi. Nhưng từ giữa năm sau, tức tháng 8, bệnh tình chuyển biến xấu, lý do gặp “Mùi”, Mùi là Thổ khô (âm), lại thêm cô đốt vàng mã vào giờ Tý buổi tối. Những thông tin này đều đã định trong mệnh.

Một người gặp nguy hiểm, có thể được bổ cứu phải xem đại vận tiếp theo có xuất hiện mật mã giải cứu hay không. Bát tự của cô không có nhân tố bổ cứu, cô mắc bệnh vào vận Sửu Thổ, Khi bước vào đại vận Bính Dần, Dần là nơi trường sinh của Mộc Hoả, qua đời do gặp Hoả hoạn. Xem tiếp đại vận Đinh Mão, lại là Hoả, khó tránh khỏi điều dữ.

Từ đó có thể hiểu rằng, người có Nhật Can BÍNH HOẢ kỵ nhất là Thổ, cần nhất là NHÂM THUỶ, nếu sinh vào Mùa Đông có nhiều Thuỷ, theo lý luận BÍNH HOẢ không kỵ Thuỷ. Nếu sinh vào mùa Thu, giống như cần Thuỷ đến sinh Mộc, đồng thời cũng cần có NHÂM THUỶ, đây là đặc trưng của BÍNH HOẢ.

 

NHẬT CAN ĐINH HOẢ

Dụng thần Nhật can ĐINH HOẢ khác với BÍNH HOẢ là BÍNH HOẢ thích làm việc thiện, bất luận là cường vượng hay suy nhược, có tiềnhay không có tiền đều thích tham gia công việc từ thiện và giáo dục. Với nhật can ĐINH HOẢ đặc biệt thích kiếm tiền.

Đặc trưng lớn nhất của ĐINH HOẢ là trường thọ. BÍNH HOẢ có mệnh ngắn hơn, tính nhẫn nại cũng kém hơn ĐINH HOẢ. Trong Bát tự đặc trưng tính Âm chủ trường thọ, tính dương đoản thọ. Khi trọng bệnh mệnh âm kéo dài một thời gian mới ra đi.

Sau đây là Bát tự của Chương Tử Di

NIÊN TRỤ: KỶ MÙI
NGUYỆT TRỤ: BÍNH DẦN
NHẬT TRỤ: ĐINH MÙI
THỜI TRỤ: TÂN HỢI

photo-12-23-52-02-09-2016

Nếu ĐINH HOẢ sinh vào mùa nhiều Thuỷ, đương nhiên sẽ suy nhược, nhưng khi có GIÁP MỘC lập tức không còn suy nhược và cát lợi. ĐINH HOẢ gặp Dần Mộc lặp tức có chuyến biến lớn. Đây là phương pháp bổ cứu nhanh nhất.

Nhưng ĐINH HOẢ dựa vào điều gì để dẫn dụ GIÁP MỘC xuất hiện? GIÁP MỘC không dựa vào Thuỷ mà dựa vào Kim. CANH KIM là một chiếc rìu, chuyên chặt GIÁP MỘC. Người có Nhật can ĐINH HOẢ cần GIÁP MỘC, cũng cần cả CANH KIM mới có thể đảm bảo nguồn GIÁP MỘC luôn dồi dào. Canh Giáp cùng gặp là yếu tố thiết yếu của ĐINH HOẢ. Trong Bát tự có CANH KIM ắt có mệnh tốt, có GIÁP MỘC ắt hành vận tốt.

ĐINH HOẢ là một cây nến, nếu Thuỷ ở trạng thái thiên vượng, thậm chí xuất hiện Thuỷ cục, phương pháp bổ cứu như thế nào? Phương pháp duy nhất là dùng Thổ dày để chặn dòng nước, đó chính là Mậu Tuất Thổ.

Chương Tử Di sinh vào ngày ĐINH HOẢ, chủ tính cách nhu hoà. Mệnh nữ gặp ĐINH HOẢ, xinh đẹp hơn người, ngoài nhu trong cương, biết tiến thoái lưỡng nan một cách thích hợp.

Thực thần nhiều hoá Thương quan, do có tính cách mạnh mẽ, trắng đen rõ ràng, tự lập tự chủ, không thích bị ràng buộc, có ý chí phấn đấu vương lên. Thực thần tại Nhật chi (Thiên can Kỷ ẩn tàng trong Nhật chi Mùi), do đó bên cạnh cô có rất nhiều nam giới đeo đuổi. Chuyện tình cảm đến vận Canh Ngọ (39t) mới có thể ổn định.

Trong mệnh Mộc Hoả trùng trùng, Nhật can cường vượng. Cường vượng ưa được tiết, gặp tiết tất sẽ tốt. Mệnh cục xuất hiện 3 Thực thần, tiết dài ngàn dặm, tú khí thịnh vượng, dồi dào bất tuyệt. 19 tuổi hành vận Thương quan khiến cho tài năng hiển lộ. Thực thần vào giai đoạn tuổi trẻ chủ về tài hoa và linh khí, tuổi trung niên đại diện cho phong thái và khí chất. 29 tuổi hành vận Thực thần, khiến cho sự nghiệp càng phát triển rực rỡ.

(* Thực thần, Thương quan …. Xem trang 52 sách Tự xem Bát tự )

 

NHẬT CAN MẬU THỔ

Nhật can MẬU THỔ có công đức giúp con người phòng lũ lụt, nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới có nhật can MẬU THỔ. Phàm người có Nhật can MẬU THỔ đa số cần Hổ, Mèo tức Dần, Mão Mộc. Trong Dần Mộc ẩn tàng Thiên can GIÁP MỘC, BÍNH HOẢ và Mậu Thổ. Điều này biểu thị ssau khi Thổ này gặp rất nhiều đồng loại, có GIÁP MỘC đến khai thông Thổ, khiến cho Thổ không quá vượng. Sau đó có Hoả bất diệt (BÍNH HOẢ) đến sưởi ấm.

Đặc điểm của MẬU THỔ là phải dày nặng mới thuộc mệnh tốt, phải ở thế cường vượng mới có hành vận như ý. Người mà Nhật can MẬU THỔ suy nhược nhất định sẽ hành vận suy. Nhật can Mậu Thổ không sợ cường vượng, chỉ sợ suy nhược.

Khi luận đoán Bát tự, không thể luận một cách đại khái rằng phàm là Ngũ hành trung hoà (cân bằng) là tốt nhất. 3 báu vật của Nhật can MẬU THỔ là: BÍNH HOẢ, QUÝ THUỶ và GIÁP MỘC, chỉ cần trong Bát tự có đầy đủ Giáp Quý Bính tất có vận mệnh tốt.

Sau đây là Bát tự của Thư Kỳ

NIÊN TRỤ: BÍNH THÌN
NGUYỆT TRỤ: NHÂM THÌN
NHẬT TRỤ: MẬU TUẤT
THỜI TRỤ:

photo-12-24-02-02-09-2016

Phàm người sinh ngày Mậu Thổ tốt nhất không phải là Mậu Tuất, vì Mậu Tuất mang mật mã thông tin  Cô thần Quả tú. Chủ về nương nhờ cửa phật hoặc lưu lạc chốn phong trần.

Mậu Tuất trong quan niệm thời cổ đại hình khắc cha mẹ, chồng. Mậu Tuất là Thổ cứng rắn, chỉ thích hợp phòng chống lũ lụt, cống hiến hi sinh vì mọi người. Trong Bát tự Thư Kỳ, Mậu Thổ cần gặp QUÝ THUỶ mới có thể tưới tắm, mà Địa chi Thìn trong Bát tự ẩn tàng QUÝ THUỶ.

Dụng thần thứ 2 mà MẬU THỔ cần là BÍNH HOẢ. Trong Bát tự của Thư Kỳ cũng có BÍNH HOẢ, tuy nhiên không quá mạnh. Dụng thần thứ ba là GIÁP MỘC. Khi cô 19 đến 24 tuổi, đại vận gặp Dần, phàm MẬU THỔ gặp Dần là “tiếng sấm nơi đồng bằng”, thời điểm này cô vô cùng nổi tiếng, đó là liên quan đến vận GIÁP MỘC, chủ về có được thanh danh và tiền bạc. Nhưng tiếp sau đó bước vào vận KỶ THỔ, trong KỶ THỔ tất không có thiên can GIÁP MỘC ẩn tàng. nhưng vấn đề không phải ở đó.

Cô sinh vào tháng Thìn, chủ về cuộc đời có nhiều biến đổi. Giáp Kỷ có thể hợp hoá thành Thổ không? Mệnh cô cần GIÁP MỘC, nhưng Bát tự hành vận KỶ THỔ, mỗi khi GIÁP MỘC xuất hiện đều hợp hoá với KỶ THỔ thành MỘC, tức hoàn toàn không có Mộc. Đối với mệnh này, GIÁP MỘC khắc MẬU THỔ, GIÁP MỘC là tình nhân của cô. Năm 24 tuổi, khi Giáp Kỷ tương hợp, cô chia tay bạn trai. GIÁP MỘC là dụng thần, người bạn trai này vốn tồn tại nhưng bỗng nhiên kết hợp đại vận mà biến mất, khiến cô vô cùng đau khổ.

Nhật can của Thư Kỳ là MẬU THỔ, vậy KỶ THỔ là ai? chính là chị, em của cô. Do đó, bạn trai của cô quen biết người trẻ trung xinh đẹp hơn cô. Khi kết thúc hành vận KỶ THỔ, có thể nối lại mối quan hệ với người bạn trai này không? Sau KỶ THỔ là Sửu Thổ, trong Sửu ẩn tàng KỶ THỔ, QUÝ THUỶ và TÂN KIM, biểu thị KỶ THỔ một lần nữa kết hợp với GIÁP MỘC. Nhưng sự kết hợp này có chút khác biệt so với trước, vì KỶ THỔ ẩn tàng, so với trước là tốt, nhưng vấn đề xuất hiện lại giống nhau. Nam giới trong mệnh có nhiều GIÁP MỘC nếu theo đuổi cô có thể sẽ thành công.

Do mệnh cục thiếu GIÁP MỘC, năm 2004 là năm Giáp Thân, nửa đầu năm của cố rất nhiều cơ hội quen biết người khác giới. Nhưng khi nước vào tháng Mậu Thìn, cô lại mất đi người yêu. Muốn có được GIÁP MỘC phải chời đến tháng Dần năm tiếp theo mới có cơ hội.

 

NHẬT CAN KỶ THỔ

Nhật can KỶ THỔ giống như MẬU THỔ cần mặt trời, vì vậy phải có BÍNH HOẢ, đồng thời cần cả QUÝ THUỶ. Nhưng KỶ THỔ không cần GIÁP MỘC mà kỵ GIÁP MỘC, phần đầu sách có nêu, phàm Bát tự tính Âm không thích bị HÌNH KHẮC. Nếu dụng thần cần Mộc sẽ giải quyết thế nào? Chỉ có thể dùng ẤT MỘC, chỉ tiếp nhận một ít Mộc mà không được quá nhiều.

Sau đây là Bát tự của Châu Nhuận Phát

NIÊN TRỤ: ẤT MÙI
NGUYỆT TRỤ: TÂN TỴ
NHẬT TRỤ: KỶ MÃO
THỜI TRỤ:

photo-12-24-08-02-09-2016

Anh sinh vào ngày KỶ THỔ tháng Tỵ, Tỵ đại diện cho “bất trung bất hiếu, bất nhân bất nghĩa“. Tỵ thích thay đổi, giả như bên cạnh Tỵ xuất hiện Dậu hoặc Thân, Tỵ Thân sẽ hợp thành Thuỷ, Tỵ Dậu sẽ hợp thành Kim. Nhưng trong Bát tự này Tỵ không có biến đổi, chúng ta không tìm được khuynh hướng biến Kim hoặc biến Hoả của Tỵ. Bát tự này có Mùi, phàm nếu có Tỵ mà có cả Mùi, được gọi là “Củng Hoả”, tức ẩn tàng Ngọ Hoả, biểu thị một khi gặp Hoả lập tức sẽ bùng cháy. Nói cách khác, Tỵ này hoàn toàn mang thuộc tính Hoả.

Trong Tỵ ẩn tàng Thiên can BÍNH HOẢ, đây thuộc Bát tự cường vượng. Nếu KỶ THỔ gặp Ngọ là Lộc Thần. Nhưng Kỷ gặp Tỵ, hai bên đều mang thuộc tính âm, chỉ là sao Dương nhẫn. Điều này mang ý nghĩa gì? Bản thân Nhật can thuộc Thổ, trong Bát tự cũng có nhiều Thổ nhưng không phải loại Thổ tốt mà loại bùn đất nhiều tạp chất. Nói cách khác, người này bất luận thành công như thế nào, cuối cùng cũng không thể đạt đến đỉnh cao, vì bản thân bát tự có một chút khiếm khuyết.

Nhật can KỶ THỔ, đồng thời có BÍNH HOẢ ẩn tàng trong Tỵ, chỉ cần thêm QUÝ THUỶ tất gặt hái nhiều thành tựu. Tuy Bát tự không có QUÝ THUỶ, lúc này, họ tên phát huy tác dụng quan trọng, từ nhỏ được gọi là “Phát Tử”, Phát chính là QUÝ THUỶ, Tử chính là Tý Thuỷ.

Sau 44 tuổi bước vào đại vận Bính Tý, Thiên can QUÝ THUỶ ẩn tàng trong Tý, BÍNH HOẢ hợp với TÂN KIM, biểu thị vào thời gian này có khả năng có sự khởi phát trở lại. Nhưng trong 5 năm từ 44 đến 49 tuổi, tuy có nhiều cơ hội vẫn không thể nắm bắt được. Nguyên nhân có thể bước vào đại vận BÍNH HOẢ, QUÝ THUỶ vẫn thiếu hụt. Từ 39 đến 44 tuổi, tức hàng đại vận Sửu, trong giai đoạn này có sự phát triển tốt hơn đại vận BÍNH HOẢ.

Nhật can thuộc Thổ, Thổ khắc Thuỷ, Thuỷ chính là thê tài của anh. Bắt đầu từ 34 bước vào Thuỷ cục “Hợi, Tý, Sửu”, biểu thị hành vận Thê tinh vào khoảng thời gian này. Thuỷ sinh Mộc  là con cái, Mộc là cung tử nữ của anh. Vợ anh từng không may bị sảy thay.  Bát tự từng xuất hiện một hiện tượng là bản thân Tỵ có rất nhiều Hoả, Mùi và Mão gặp hợi sẽ thành tam hợp Mộc cục.

Trường hợp này giống với Mai Diễm Phương, nguyệt chi của cô là Tuất, phàm có QUÝ THUỶ đến đều bị hợp thành Hoả. Trong Bát tự của anh bản thân Tỵ rất nóng, phàm có Mộc đến đều bị thiêu cháy. Vì vậy cần phải chế phục Tỵ mới có thể khiến cho cái của Mộc sinh trưởng, cho dù Tỵ không biến thành Hoả nữa, Tỵ gặp Dậu sẽ biến thành Kim, Kim đến chế Mộc, khiến cho Mộc không thể sinh tồn. Trong khoảng thời gian vợ sảy thai, vì trong Bát tự có nhiều Mộc nhưng cuối cùng cũng bị mất đi.

Làm thế nào khiến cho Mộc không thể mất đi? Khi Tỵ gặp Thân biến thành Thuỷ, Thuỷ có thể sinh Mộc, lúc này mới có cơ hội sinh con cái. Trong đại vận của anh, có thể dự đoán rằng về già mới có con. Vì GIÁP MỘC là con gái, ẤT MỘC là con trai, trong Hợi có ẩn tàng GIÁP MỘC (con gái). Khi hành đại vậy Tý Thuỷ, nhiều khả năng xung mở Ngọ, khiến cho Tỵ, Thân có thể hợp thành Thuỷ thành công, giúp cho anh có được con cái. Điều này biểu thị cho khả năng anh nhận đệ tử, nhận con nuôi. Nếu không có con, Giáp, Ất cũng là đại diện cho con cái của anh em.

Trước đây anh không thể có con là do Tỵ, Mùi thường hợp thành Hoả, khiến cho Mộc khố của Mùi cũng biến thành Hoả, chỉ có Mão vẫn là Mộc. Nhưng mỗi lần Mão đến đều bị Tỵ Hoả thiêu cháy, tạo nên tượng Mão Mộc không thể trở thành cung Tử nữ. Đây là điều phiền phức lớn nhất trong Bát tự.

Ngoài ra, Bát tự kỵ GIÁP MỘC, tức con gái. Giả như anh có con gái sẽ phá hỏng toàn bộ cách cục bát tự, khiến thanh danh bị tổn hại. Nhưng phải chăng một đời anh không có con cái? Luận đoán này chưa chắc hoàn toàn đúng. Thời trẻ, từ 19 đến 24 tuổi hành vận Mão Mộc, có cơ hội có con cái. Năm 30 tuổi là năm Mộc địaDần, Mão, Thìn“, vận con cái đẹp nhất. Nhưng sau năm 39 tuổi, Sửu Thổ sẽ phân tán Hoả, nhưng Tỵ, Sửu hợp thành Kim, Kim phạt Mộc, là khoản thời gian lại mất đi duyên phận với con cái.

 

NHẬT CAN CANH KIM

Nhật can CANH KIMKim ngoan cường, CANH KIM cần gặp ĐINH HOẢ mới có thể có được vận tốt, phải có lượng lớn ĐINH HOẢ, cần thêm GIÁP MỘC để sinh vượng cho CANH KIM. CANH KIM gặp Đinh Hoả và GIÁP MỘC mới có thể thành tài khí.

Sau đây là Bát tự của Lương Chấn Anh

NIÊN TRỤ: ẤT MÙI
NGUYỆT TRỤ: TÂN TỴ
NHẬT TRỤ: KỶ MÃO
THỜI TRỤ:

photo-12-24-27-02-09-2016

Người này sinh vào ngày CANH tháng Thân. Đây là cách cục tốt, biểu thị dễ dàng đạt được thành công và sự nổi tiếng, anh sinh vào năm Giáp Ngọ, địa chi Ngọ ẩn tàng Đinh Hoả, đây là thông tin mật mã không tầm thường

Tiếp đến xem đại vận. Nhật can CANH KIM lại sinh vào mùa Kim vượng, là Kim vường vượng, dụng thần tất phải là MỘC, HOẢ. Mộc là GIÁP MỘC, Hoả là ĐINH HOẢ. Từ 49 đến 54 tuổi, có 5 năm hành vận ĐINH HOẢ, CANH KIM là Kim dương, Đinh Hoả là Hoả âm. Hoả khắc Kim là chính quan. Chính quan lại là dụng thần. Năm 2007 là năm Đinh Hợi, năm này có ĐINH HOẢ, trong địa chi Hợi cũng ẩn tàng thiên can NHÂM THUỶ và GIÁP MỘC. Cả thiên can và địa chi đều là dụng thần, chủ năm này có được vận tốt. Nhưng 2007 bước vào năm cuối cùng của đại vận Đinh Hoả. Sau khi bước vào đại vận Sửu Thổ không còn đạt được danh vọng như trước. Vì trong Sửu Thổ không ẩn tàng thiên can ĐINH HOẢ, tức không có Quan tinh. Sửu Thổ có thể sinh Kim, vì thổ ẩm dễ dành sinh Kim nhất, nhưng dụng thần lại là MỘC, không phải Kim.

CANH KIM cường vượng như vậy vẫn cần dùng Đinh Hoả liên tục tôi luyện, vậy trường hợp nào CANH KIM bị khắc tử? Đó chính là CANH KIM gặp tam hội hoặc tam hợp Hoả cục. Ngoài CANH KIM, GIÁP MỘC gặp tam hội Hoả cục cũng  luận tương tự, vì GIÁP MỘC kỵ nhất Hoả quá nhiều.

CANH KIM chỉ cần một ĐINH HOẢ. Giả dụ “Dần, Ngọ, Tuất” hoặc “Tỵ, Ngọ, Mùi” hội thành Hoả cục, CANH KIM sẽ bị nung chảy và tiêu diệt. Nhưng cũng cần phải xem đến yếu tố dụng thần trong bát tự. Nếu Dần là dụng thần, trong bát tự xuất hiện Hoả cục “Dần Ngọ Tuấtvấn đề không quá nghiêm trọng. Nếu Dần là kỵ thần, biểu thị nguy hiểm, vì CANH KIM sợ nhất Hoả mãnh liệt đến thiêu chảy. Nói cách khác, dù năm 2007 là năm thành công của anh nhưng nhiều khả năng năm tiếp theo sẽ thất bại, chỉ riêng năm 2007 là năm đỉnh cao của thành công.

 

NHẬT CAN TÂN KIM

“CANH KIM” là Kim điển hình cần HOẢ tôi luyện, có thể chịu được Hoả mãnh liệt tôi luyện thành tài khí. TÂN KIM thì ngược lại, không cần Hoả để tôi luyện. TÂN KIM có khuynh hướng thích băng giá. Phàm Nhật can “CANH KIMsinh vào mùa đông thì cần Hoả. Còn TÂN KIM kỵ nhất gặp ĐINH HOẢ, vì sẽ khắc chế TÂN KIM khiến cho TÂN KIM gặp phải tai ương. Bát tự có Nhật can TÂN KIM cho dù rất lạnh giá nếu cần Hoả đển sưởi ấm cũng chỉ cần BÍNH HOẢ. Nguyên nhân là BÍNH HOẢ và TÂN KIM có thể hợp hoá thành Thuỷ.

TÂN KIM cần BÍNH HOẢ đến sưởi ấm, nhưng cuối cùng lại biến thành Thuỷ. Dụng thần của TÂN KIM có khuynh hướng cần Thuỷ, mà nhất định phải là NHÂM THUỶ. Vì TÂN KIM dùng Thổ đến sinh trợ, Thổ sinh Kim khiến Kim này bám đầy bùn đất. Muốn TÂN KIM thoát thai hoán cốt nhất định phải dùng NHÂM THUỶ đến gột rửa. Tuyệt đại đa số TÂN KIM phải dùng KỶ THỔ đến sinh vượng, sau đó dùng NHÂM THUỶ. Giả dụ Bát tự lạnh cóng, có thể thêm một chút BÍNH HOẢ.

Vì vậy dụng thần của TÂN KIM là KỶ THỔ, NHÂM THUỶ và BÍNH HOẢ. Một trường hợp thường gặp là bên cạnh TÂN KIM chỉ toàn là Thổ, đây gọi là “Thổ dày chôn vùi Kim”. Nghĩa là trong Thổ có ĐINH HOẢ, Hoả sinh Thổ, Thổ dày sẽ vùi lấp Kim, khiến Kim quá nóng. Phương pháp bổ cứu duy nhất là dùng Mộc đến khai thông Thổ, sau đó dùng Thuỷ tưới nhuần Thổ. Mà muốn khai thông Thổ tất dùng đến GIÁP MỘC, kỵ dùng ẤT MỘC.

TÂN KIM kỵ nhất là Thổ vượng, cũng chính là sự yêu thương quá mức của Mẹ, hoặc Cha quá phong lưu khiến cho có quá nhiều mẹ, là tượng “Thổ dày chôn vùi Kim”. Mệnh có Nhật can TÂN KIM lại có người cha phong lưu, tất một đời không có hành vận tốt, không thể thành công.

Sau đây là Bát tự của Lưu Hoan

NIÊN TRỤ: QUÝ MÃO
NGUYỆT TRỤ: CANH THÂN
NHẬT TRỤ: CANH THÂN
THỜI TRỤ: GIÁP NGỌ

photo-12-24-33-02-09-2016

Lưu Hoan có Nhật can TÂN KIM sinh vào tháng Thânở vào nơi vượng, niên can QUÝ THUỶ thông căn với QUÝ THUỶ ẩn tàng trong Địa chi Sửu nên ở thế cường vượng. Thực thần QUÝ THUỶ lại được CANH KIM đến sinh trợ, do đó chủ mệnh bộc lộ tài hoa. Bát tự lưu thông hữu hình: GIÁP MỘC sinh Ngọ Hoả, Ngọ Hoả sinh Sửu Thổ, Sửu Thổ sinh Tân Kim, Tân Kim đem sức mạnh chuyển đến CANH KIM sinh QUÝ THUỶ, QUÝ THUỶ lại sinh Mão Mộc. Con đường lưu thông thuận lợi, do đó ông dễ dàng đạt được vị trí đỉnh cao trong làng âm nhạc.

Thực thần QUÝ THUỶ đại diện cho tài năng nghệ thuật, có căn khí lại được sinh trợ, do đó ông có sở trường về ca hát, tinh thông ngoại ngữ. Ngọ là Quan Sát đại diện cho sự nghiệp. Từ vận Ngọ (khoảng 20 tuổi) bắt đầu nổi danh. Vận Đinh Tỵ tiếp theo giống như ánh mặt trời ban trưa. Năm Mậu Tý 2008, Thân Tý Thìn tam hợp Thuỷ cục, chế lực của kỵ thần Thân Thìn. Do đó, được Trương Nghệ Mưu lựa chọn hát bài hát chính trong thế vận hội Olympic.

 

NHẬT CAN NHÂM THUỶ

NHÂM THUỶThuỷ tính dương, chủ về người không dễ gặp đau khổ. Người có Nhật can NHÂM THUỶ chỉ có một loại “đau khổ” đó là hồ nước khô cạn. Phàm người có Nhật can NHÂM THUỶ cần có một đời Thuỷ cường vượng, từ đó mới có thể hành vận. Tuy nhiên, nước sông tràn lan sẽ gây nên hoạ lũ lụt. Nếu Nhật can suy nhược, khi gặp đại nạn sẽ khó vượt qua.

Trong Bát tự Đinh Nhâm hợp Mộc. Khi NHÂM THUỶ gặp BÍNH HOẢ, nếu hợp hoá thành công, NHÂM THUỶ biến thành Mộc, không còn tổn hại. Mọi người đều biết, con người thường gặp tử, tuyệt ở hợp cục, vì vậy, hợp cục đại diện cho sự mất đi, không còn trên nhân gian. Trong Bát tự hợp cục là vô cùng quan trọng, biểu thị một loại Ngũ hành nào đó trong mệnh cục bỗng dưng mất đi, cũng đại diện cho con người đột nhiên qua đời, hoặc mất tích, hoặc mất đi quyền phát ngôn, hoặc bị người khác khống chế, đánh mất đi bản thân của mình.

Ví dụ, hợp cục biến thành con cái, biểu thị cha mẹ bị con cái khắc chế, hoàn toàn mất đi địa vị. Đối với Nhật can NHÂM THUỶ, có Kim vừa đủ đến sinh Thuỷ là quan trọng nhất, vì mệnh này cường vượng mới có vận tốt.

Sau đây là Bát tự của La Văn

NIÊN TRỤ: CANH DẦN
NGUYỆT TRỤ: MẬU DẦN
NHẬT TRỤ: NHÂM NGỌ
THỜI TRỤ:

photo-12-24-38-02-09-2016

Có thể ví dụ về Nhật can NHÂM THUỶ La văn, Bát tự người này lúc có Thuỷ, lúc không. Có lúc dường như tạo được tiếng vang lớn nhưng có lúc lại lắng trầm. Có lúc kiếm được nhiều tiền, có lúc sống cảnh nghèo khổ. Năm 2002 là năm Nhâm Ngọ nhiều Hoả, do phạm Phục ngâm mà qua đời.  Người này năm 16 tuổi gặp đại vận Canh Thìn, Thìn ngoài sự biến hoá khôn lường còn đặc biệt thích một loại Địa chi. Khi gặp Địa chi này sẽ biến thành Kim cường vượng, đó là Địa chi Dậu. Người mệnh cần Kim gặp Thìn, lập tức sẽ hành vận.

Trước năm 16 tuổi, anh hành vận Mão Mộc, đó là thời điểm vận thế kém nhất. Lúc đó anh đang học thiết kế thời trang, quen biết với Lưu Bồi Cơ trong giới. Sau năm 16 tuổi, ngoài việc thiết kế thời trang, anh bắt đầu cùng bạn bè thành lập ban nhạc. Từ đó, sự nghiệp phát triển khá thuận lợi, cũng bắt đầu tụ tập ăn chơi ở hộp đêm.

Từ năm 26 tuổi anh dần nổi tiếng, khi đó mệnh đang hành đến đại vận Tân, Tân là Kim, Kim sinh Thuỷ, Tân là cha mẹ. Khi anh nổi tiếng, tuy thường xuyên biểu diễn nhưng thực tế tiền kiếm được không nhiều. Sau năm 1983, bước vào vận Tỵ, không thể khiến cho sự nghiệp có sự đột phá. Mệnh phải gặp Sửu hoặc Dậu mới có thể thành công, nhưng khoảng thời gian đó, không có cơ hội nào.

Từ năm 36 đến năm 41 tuổi hành vận NHÂM THUỶ, sự nghiệp có chút khởi sắc. Nhưng Địa chi Ngọ luôn có sự ràng buộc khắc chế rất lớn đối với anh, cũng trong khoảng thời gian này có nguy hiểm rình rập. Ngọ Hoả là nhân tố kỵ nhất của mệnh. Đến năm 41 mệnh không có khởi sắc. Đến năm 46 bước vào đại vận vô cùng bất lợi đối với anh, trong đó GIÁP MỘC và KỶ THỔ xuất hiện, Thổ khắc Thuỷ.

Năm 51 bước vào đại vận Mùi Thổ, năm 52 tuổi qua đời. Vận QUÝ THUỶ trước năm 51 có một chút tác dụng đối với anh. Nhưng NHÂM THUỶ là sông Hoàng Hà, Trường Giang, vài giọt nước mưa QUÝ THUỶ đối với NHÂM THUỶ không có sự trợ giúp quá lớn. Cho dù QUÝ THUỶ cường vượng cũng không thể phát huy tác dụng. Trong Bát tự có lượng lớn MẬU THỔ. MẬU THỔ xuất hiện trên Thiên can, giống như người canh giữ cửa. Khi NHÂM THUỶ cường vượng, hai bên bờ sông Hoàng Hà có Mậu Thổ đến chế phục tương ứng, khiến cho nó không thể lan tràn. Anh có thể trở nên nổi tiếng chính là do trong Bát tự có MẬU THỔ.

Khi Thuỷ nhiều, MẬU THỔ sẽ phát huy công dụng. Nhưng khi Thuỷ yếu nhược, MẬU THỔ lại là đòn chí mạng của Bát tự, tức danh tiếng, thể diện trở thành vết thương của anh. Khi MẬU THỔ gặp QUÝ THUỶ, Mậu Quý hợp Hoả. Năm 2001 là năm Tân Tỵ, Tân có thể bổ cứu, nhưng Tỵ sẽ khắc hại anh, vì “Tỵ Ngọ Mùi” là tam hợp Hoả cục. Khi bước vào năm Nhâm Ngọ, Ngọ Mùi lại gặp tháng Tỵ, anh qua đời vào năm 2002.

Mệnh anh nếu Nhật can NHÂM THUỶ suy nhược, toàn bộ sẽ biến thành Hoả. Có 2 bộ phận bị tổn thương trên cơ thể. Nhâm đại diện cho Bàng Quang, Dần Mộc đại diện cho gan, Mộc sinh Hoả, vì vậy mắc bện ung thư gan. Nhưng kỳ thực còn có một bộ phân của anh có vấn đề, đó chính là do gan có bệnh dẫn đến hệ thống tiết niệu gặp trở ngại.

 

NHẬT CAN QUÝ THUỶ

Thiên can có Ngũ hành tương đồng với NHÂM THUỶ là QUÝ HUỶ. Lưu Đức Hoa là người có Nhật can QUÝ THUỶ, điểm tương đồng với NHÂM THUỶ là không thể suy nhược, điều đầu tiên nếu nó suy nhược là khiến cho nó trở nên cường vượng, như vậy mới có thể hành vận tốt. Cái mà QUÝ THUỶ cần nhất đó chính là CANH KIM hoặc TÂN KIM, dùng để sinh vượng Thuỷ, khiến Nhật can cường vượng, có được Thuỷ đầy đủ. Nếu QUÝ THUỶ quá nhiều, tất dùng đến BÍNH HOẢ đến bổ cứu. Bát tự của anh là QUÝ THUỶ cực vượng, vì vậy lấy Mộc, Hoả làm dụng thần.

Trong Bát tự này, từ năm 17 tuổi bước vào Đại vận Mộc Hoả kéo dài 30 năm, biểu thị bắt đầu từ đây bước lên đỉnh cao của đời người. Từ sau năm 20 tuổi bước vào giới điện ảnh và trở nên nổi tiếng, đó là lúc anh hành vận Mùi Thổ. Sau năm 42 bước vào đại vận Tỵ, Quý là Thuỷ âm, Thuỷ khắc Hoả là tài tinh, Tỵ là Hoả âm, biểu thị là thiên tài, chủ dễ dàng đạt được tài phú

Sau đây là Bát tự của Lưu Đức Hoa

NIÊN TRỤ: TÂN SỬU
NGUYỆT TRỤ: ĐINH DẬU
NHẬT TRỤ: QUÝ HỢI
THỜI TRỤ:

photo-12-24-45-02-09-2016

Tỵ đại diện Tài phú, ở trên đã nói đến. Tỵ chính là “Bất trung bất hiếu, bất nhân bất nghĩa”. Khi Tỵ gặp Dậu, Sửu trong Bát tự, biến thành tam hợp Kim cục, biểu thị Tài tinh biến thành Ấn tinh, chủ vào khoản thời gian này phá tài.

Bát tự này có thể bổ cứu không? Ví dụ anh sinh vào giờ Mùi, Mùi và Tỵ có thể “củng Ngọ”. Mùi và Hợi có thể hợp thành Mộc đi khắc chế cân bằng lực lượng với Kim. Đây không phải là khoản thời gian quá kém của anh, nếu thời chi là Ngọ thì càng thêm tốt. Khi bát tự hành đến đại vận Nhâm Thìn, Thìn và Dậu trong Bát tự lại một lần nữa hợp hoá thành Kim. Nhưng NHÂM THUỶ và Đinh Hoả hợp thành Mộc, đây là nơi khá tốt. ĐINH HOẢ đại diện cho tài lộc, Mộc đại diện cho tính sáng tạo và công việc. Điều này biểu thị anh có tính sáng tạo trong công việc nhưng không có được tài lộc.

Năm 2008 là năm Mậu Tý, năm này Tý Thuỷ ở trạng thái vượng, Mậu Thổ có thể chế phục cân bằng với Tý Thuỷ, nhưng vẫn có khả năng là một năm phá tài. Vì sao một người dễ dàng bị phá tài? Đó là do họ thích đầu tư, thích làm nhiều việc một lúc, vì vậy dẫn đến sự tổn thất.

Người có Nhật can QUÝ THUỶ phải ghi nhớ, bản thân Nhật can phải cường vượng, nhưng nếu Thuỷ quá nhiều dẫn đến phá tài. Sự khác biệt lớn nhất của QUÝ THUỶ và NHÂM THUỶ là khi NHÂM THUỶ gặp Thổ đê điều, chủ sẽ bị người khác chửi mắng, mất đi sự tự chủ, dẫn đến thất bại. Nhưng QUÝ THUỶ là Thuỷ âm nhu, cho dù cường vượng cũng không đến mức có quá nhiều Thuỷ. Tuy nhiên, nếu bại tài do Thuỷ quá nhiều mà không có Hoả, cho dù không có tài cũng không đến nổi gặp hoạ chí mạng. Vật chất tính âm có sức dẽo dai và nhẫn nại, không dễ dàng bị tiêu diệt

Tiếp theo, do bản thân thuộc âm nhu, cho dù Bát tự xuất hiện hiện tượng cực đoan cũng không dẫn đến tình trạng quá kém hoặc quá nguy hiểm. Mặt khác, phải xem bên cạnh người đó xuất hiện người như thế nào, đồng thời tính toán cả sự ảnh hưởng của người hợp tác với người thân bên cạnh mình. Từ đó mới có thể đưa ra dự trắc chính xác nhất.

Luận đoán cát hung của Bát tự phải kết hợp xem cả những người xung quanh có trợ lực gì cho người đó hay không. Trên thực tế, có nhiều Bát tự ko tốt nhưng đều được bổ cứu nhờ vào những người bên cạnh mà được bình an

 

BÁT TỰ ĐẶC BIỆT CỦA HOÀNG ĐẾ CÀN LONG

Mệnh Bát tự của vua Càn LongNhật can CANH KIM sinh vào tháng Dậu, CANH KIM là Kim hào phóng mang sát, tất cần ĐINH HOẢ đến tôi luyện, khắc chế mới có thể thành khí. Mệnh này là Kim cường vượng, dưới CANH KIM có Ngọ Hoả. Kim vượng gặp Hoả mà được tôi luyện. 2 Hoả Bính Đinh đồng thời xuất hiện trên Thiên can, chủ mệnh này có thể gây dựng đại nghiệp.

NIÊN TRỤ: TÂN MÃO
NGUYỆT TRỤ: ĐINH DẬU
NHẬT TRỤ: CANH NGỌ
THỜI TRỤ: BÍNH TÝ

photo-12-24-52-02-09-2016

Trong Bát tự có Mộc, là nguồn dồi dào bất tận thắp sáng Hoả, khiến CANH KIM được tôi luyện. Khi Hoả quá mãnh liệt, có Tý Thuỷ và Ngọ Hoả đến tương xung, có thể phục cân bằng nhiệt độ quá nóng. Nếu Kim cường vượng biến thành suy nhược, còn có TÂN KIM đến trợ giúp. Vì vậy “Có Mộc sinh Hoả, Hoả lại luyện Kim, Kim sinh Thuỷ, Thuỷ lại sinh Mộc“. Đây là hiện tượng Bát tự tuần hoàn, Hoả mãnh liệt có Thuỷ khắc chế, Canh yếu nhược có Tân bổ trợ. Toàn bộ Vt đối ứng tương hỗ. Trên dưới thông thuận.

Càn Long gây dựng nên thời kỳ thịnh trị nhà Thanh. Ông cải trang vi hành xuống Giang Nam, để lại nhiều giai thoại về tính cách phong lưu nho nhã, háo sắc đa tình. “Tý Ngọ Mão Dậu” là 4 mật mã thể hiện cho đào hoa, cũng là mật mã thông tin của hoàng đế. Điểm thú vị của Bát tự này có đủ Tý Ngọ Mão Dậu. Ông vô cùng đào hoa, không thoả mãn với 3000 hậu cung. Trong lịch sử, ông là vị hoàng đế duy nhất đích thân xuống Giang Nam tìm mỹ nhân.

Trong Bát tự của Càn Long không có Thổ, cũng không nên có Thổ. Vì Thổ có thể sinh Kim, mệnh này là Kim cường vượng, không cần Ấn tinh. Điều này giải thích nguyên nhân sinh ra bi kịch giết mẹ. Khi bản thân quá cường vượng, lại có quá nhiều mẹ sẽ dẫn đến cảnh cốt nhục tương tàn

Đường Thái Tông Lý Dân cũng thuộc mệnh Bát tự có Nhật can cường vượng. Vì vậy cần phải quét sạch Tỷ Kiên, Kiếp tài bên cạnh mình, tức loại trừ anh em mới có thể thành đại nghiệp. Bát tự của vua Càn Long nếu là mệnh cách của nữ chủ về hung hoạ. Nữ giới thuộc mệnh CANH KIM, Hoả là cung chồng, có thể xuất hiện nữ trung hào kiệt, nhưng toàn bộ bát tự ngập đào hoa. Trong quan niệm thời cổ đại, nữ giới mang nhiều đào hoa được liệt vào mệnh hạ tiện, chủ đa phần lưu lạc chốn lầu xanh. Mệnh cách mang nhiều sát tinh lại nhiều đào hoa, tất chủ mệnh nữ khổ cực, một đời bi luỵ tình cảm, muôn sự gập gềnh.

 

 

 

Trích sách Tự xem Bát tự – tác giả: Lý Cư Minh


 
click


 

Xem Phong Thủy nhà click